Góc Học Tập

Bài Hay

This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thursday, September 9, 2010

LUAT KTS

SÁNG TÁC KIẾN TRÚC – HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP


Mục tiêu hiện đại hóa nếu không là một khát vọng tự thân thì cũng hàm chứa mong muốn vươn lên từ một mặc cảm tụt hậu.

Lĩnh vực sáng tác kiến trúc năm thứ 10 của thế kỷ 21 này rồi buồn thay, vẫn đang ở tình trạng thứ hai. Và giới Kiến Trúc Sư (KTS) cũng không có thời gian để mà cảm thán tình cảnh tụt hậu của mình trước sự bủa vây của sóng gió hội nhập. Sóng gió lắm lúc thành bão táp. Thủy thủ đoàn, bằng bản năng sinh tồn, đã chống chọi quyết liệt. Có nhiều người tỏ ra xuất sắc, vượt lên, nhưng vô nghĩa. Vì chúng ta cần một hành trình vượt lên của cả “con tàu kiến trúc ” chứ không phải vài cuộc “ đào thoát cá nhân ” dù có ngoạn mục đến thế nào…

Hiện đại hóa và hội nhập trong sáng tác kiến trúc thực chất là một thể thống nhất của hiện trạng mà chúng ta đang sống, chống chọi và phát triển. Cần nhận định đúng và hành động có hiệu quả. Không chỉ để tồn tại mà còn vì trách nhiệm và danh dự của cả giới KTS.

HỘI NHẬP – XA LỘ KHÔNG CÓ ĐƯỜNG NHÁNH

Sự bùng nổ xây dựng trong cả nước thời gian qua đã đun nóng mọi bầu không khí có liên quan. Thế giới đã không chờ đợi ta hội nhập. Thế giới đã tràn ập vô, cuốn mọi thứ từ vật liệu, thiết bị, kỹ thuật xây dựng, tư vấn… vào dòng chảy của hội nhập. Thế giới không gõ cửa, cứ thế cuốn phăng giới KTS vào cuộc so đọ với mọi đỉnh cao của đồng nghiệp quốc tế, bất kể những bất cập, yếu kém. Không chấp nhận biện hộ. Kể cả thị phần truyền thống, khách hàng truyền thống Việt Nam, trong cuộc hội nhập của riêng họ, cũng sòng phẳng đòi hỏi chất lượng quốc tế ở giới KTS trong nước.

Nếu có được lý lẽ để biện hộ, thời gian làm việc đó đủ cho hợp đồng sang tay đơn vị khác rồi. Qui luật thị trường khắc nghiệt này được pháp lý hóa bằng sự chính thức gia nhập AFTA của ASEAN hay WTO của thế giới. Biến hội nhập thành con đường lớn phải bước lên, đi về phía trước. Không có đường nhánh nào để tạm dừng hoặc rẽ ngang cho giới KTS cả.

NHƯNG HỘI NHẬP CŨNG CÒN LÀ CƠ HỘI LỚN

Cự ly để tiếp nhận vật liệu, thiết bị, công nghệ mới trở nên gần gũi, nhộn nhịp. Xa rồi thời kỳ bị cô lập, ếch ngồi đáy giếng. Đó là chưa kể chúng ta còn được chủ động chào mời, khuyến mãi, hỗ trợ kỹ thuật từ các công ty cung ứng đa quốc gia. Những chủ đầu tư nước ngoài, cùng với tư vấn của họ, tìm nguồn lao động và chất xám hợp lý cũng chủ động cung cấp kiến thức và cơ hội thực nghiệm cho nguồn nhân lực tại chỗ.

Sự phát triển mô hình sản xuất “ out sourcing ” của các nước phát triển tạo điều kiện thành lập nhiều công ty nước ngoài tại Việt Nam. Nguồn nhân lực tại chỗ có cơ hội lớn hơn về trình độ công nghệ để nâng cao tay nghề cá nhân, kiến thức và thực nghiệm các loại quy trình tiên tiến. Đặc biệt đáng mừng, một số trường hợp công ty tư vấn nước ngoài, có thái độ làm ăn nghiêm túc và lâu dài, thực hiện liên doanh với cá nhân hoặc công ty tư vấn trong nước. Công việc thực nghiệm và đào tạo bài bản tạo tiền đề cho một số công ty trong nước tạo được năng lực, phong cách và uy tín tốt, bằng vai phải vế với nhiều công ty trong khu vực và quốc tế.

Hội nhập với những mặt khắc nghiệt cũng như cơ hội thuận lợi mà chúng ta bắt buộc bước lên còn có một thúc bách khác: phải đánh giá đúng thực lực và hoàn cảnh của mình. Không khó nhận ra, niềm vui được sự trang bị tốt hoặc thành đạt của một số cá nhân chỉ là niềm vui đào thoát khỏi một tình trạng yếu kém chung về chất lượng. Còn về thực tế thị trường, lực lượng, kỹ năng… uy tín tư vấn nghề nghiệp của cả giới KTS Việt nam vẫn chưa sánh ngang được với trình độ của giới KTS đồng nghiệp quốc tế. Điều đáng nói ở đây là xảy ra ngay trên đất nước Việt Nam quen thuộc của mình.

Dù có phản ánh đúng thực chất hay không, thực tế là thực tế. Và như đã nói ở trên, trách nhiệm xã hội về lâu dài và lòng tự trọng nghề nghiệp thúc bách chúng ta phải thay đổi hình ảnh trong tương quan lực lượng. Giới Kiến Trúc Sư phải hiện đại hóa. Hiện đại hóa từ đâu? phải chăng từ khả năng tự nhận biết chính xác về mình ?

Nghề kiến trúc là một nghề sáng tạo cá nhân và hoàn thiện tác phẩm tập thể. Nếu một cá nhân không thể đảm đương mọi việc trong tác phẩm của mình thì ngược lại công lao động của nhiều người lại cũng không thể thay thế được dấu ấn sáng tạo cá nhân. Mỗi vế, mỗi cá nhân và tập thể có những đòi hỏi riêng trong khái niệm hiện đại hóa, không được lẫn lộn trong cách thức ứng xử.

CÁ NHÂN KTS – CHỦ THỂ CỦA SÁNG TẠO

Ở góc độ sáng tạo cá nhân, việc hiện đại hóa cũng mang đậm tính riêng biệt và chủ động của cá nhân. Không thể xô đẩy mọi trách nhiệm về sự tụt hậu hay thất bại trong tư duy của mình cho hoàn cảnh. Nếu có một sự bình đẳng tuyệt đối cho mọi KTS không phân biệt quốc gia hay lứa tuổi thì đó là bình đẳng trong trong ý tưởng sáng tạo kiến trúc. Và một hệ luận quan trọng không kém nữa là bình đẳng trong quyền từ chối sản sinh ra những sản phẩm đi ngược lại đạo đức và danh dự nghề nghiệp. Tất nhiên, có những hoàn cảnh mà quyết định từ chối đầy khó khăn, thử thách.

Về khả năng tiếp cận vật liệu, thiết bị và công nghệ mới cũng không còn khoảng cách đáng kể với thế giới. Các nhà cung cấp luôn sẵn sàng giới thiệu và hỗ trợ kỹ thuật cho KTS. Chưa kể thông tin mạng ngày nay đã rút ngắn một cách thần kỳ thời gian vật chất để truy tìm hoặc xác minh một thông tin kỹ thuật bất kỳ. Cũng từ thế giới mạng, từng cá nhân KTS cũng không thể vin vào cớ gì để nói rằng mình không tiếp cận được với bất kỳ quan điểm trào lưu kiến trúc hiện đại nào, không tiếp cận được với những công trình bậc thầy nào. Riêng công cụ cá nhân để nâng cao hiệu quả sáng tác là máy tính thì giới KTS Việt Nam hiện tại, nhất là giới trẻ có lẽ cũng không có gì phàn nàn khi chính họ đang sở hữu thuần thục một cách đáng ganh tị với đồng nghiệp trên thế giới về các phần mềm tác nghiệp tiên tiến nhất. Như vậy, xét theo góc độ cá nhân KTS, con đường hiện đại hóa năng lực và tri thức nghề nghiệp không có khoảng cách lớn, càng không có khoảng cách bất khả thi với thế giới. Có chăng điều kiện nền xã hội, điều kiện vật chất để thực hiện đòi hỏi cố gắng tự thân của mỗi KTS nhiều hơn. Ngoại trừ một việc: kiến thức và năng lực làm việc cùng với một hệ thống quản trị ngày càng phức tạp trong ngành kiến trúc xây dựng.

HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG NGHỆ VÀ NĂNG LỰC HỆ THỐNG

Giá trị phi vật thể trong kiến trúc là giá trị cốt lõi nhưng tỉ trọng của quản trị và kỹ thuật hỗ trợ trong mỗi công trình ngày càng lớn. Có khi lớn đến mức quyết định sự hình thành công trình hay không. Tổ chức và làm việc với hệ thống và công nghệ thì phải học và trải nghiệm thực tế từ dễ đến khó, từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Mỗi KTS có thể tự tổ chức bộ máy làm việc của mình nhưng học từ đâu, trải nghiệm kiểu nào, lớn lên cách nào…thì hiện thời là một rừng công ty, nhóm thiết kế tự cấp tự túc, lớn lên mình ên, va vấp mình ên, và nếu có thành công chút nào thì cũng không chuyển giao cho ai được. Chưa kể mỗi lần có nhân viên nghỉ việc thì đau như mất của và còn sợ bị chảy máu kinh nghiệm. Tình trạng hiện nay là có rất nhiều công ty thiết kế nhưng không có lực lượng nào đủ mạnh để làm công trình tầm cỡ. Vậy điều đầu tiên, cần hiện đại hóa là từ các nguồn đào tạo cơ bản giới KTS có thể chủ động phát triển và chuyển giao một hệ thống quản trị và nhân lực có kiến thức và trải nghiệm chuyên ngành trong môi trường và thị trường làm nghề của mình, thoát ra khỏi hoàn cảnh lạc hậu của tự cấp tự túc hiện tại.

Trong sự tương thích bắt buộc về hệ thống khi hội nhập, giới KTS trong nước cần những quy tắc giao lưu chặt chẽ với KTS đồng nghiệp nước ngoài để hỗ trợ lẫn nhau, chuyển giao công nghệ và cơ hội trải nghiệm những công trình đặc biệt hoặc phức tạp. Tạo tiền đề làm quen quy trình xây dựng lực lượng và nhất là xây dựng tâm lý tự tin trong sáng tạo kiến trúc.



(Các loại kiến: kiến giải pháp, kiến dữ liệu, kiến mạng, v.v … theo hệ thống quản lý nước ngoài)

Hội nhập không phải là trận giác đấu một mất một còn. Đó là môi trường nếu ta chứng tỏ một giá trị riêng độc đáo mà người khác muốn có, tức khắc ta có từ họ nhiều thứ ta cần. Vậy giới KTS cần phải xây dựng nhiều cơ hội để bộc lộ và quảng bá phát kiến, lý thuyết, thương hiệu cá nhân KTS, tác phẩm độc đáo được vinh danh…với chủ đích một thời điểm nào đó, một sự kiện kiến trúc nào đó có vinh dự được xem như thương hiệu Việt.

Giới KTS là người đầu tiên và cuối cùng chịu trách nhiệm về mọi đổ vỡ giá trị kiến trúc và quy hoạch trên một lãnh thổ. Từng cá nhân KTS có “quyền” nhưng không có “lực” để đảm bảo được điều tốt nhất (kể cả đảm bảo không làm điều không tốt).

Vậy “lực” đó giới KTS có quyền đòi hỏi một thể chế hợp pháp để đảm bảo giúp từng cá nhân KTS và cả giới KTS chịu trách nhiệm trước xã hội. Nếu cả cộng đồng KTS thế giới đang cư xử với nhau theo một tập quán pháp chế thống nhất mà ta chưa tiếp cận được, thì có nghĩa giới KTS Việt Nam còn tụt hậu.

Cần phải có bước đi vào hiện đại!

HIỆN ĐẠI HÓA CÁI NHÌN TỪ XÃ HỘI

Công việc tạo dựng giá trị kiến trúc nhiều lúc như một cuộc chơi từ ngữ, một tập hợp mong manh của đường nét, thậm chí một chút hãnh tiến ích kỷ của KTS… nhưng tiêu tốn hàng đống tiền của và di hại khôn lường đối với xã hội. Nhưng cũng từ đó, hình ảnh những nơi chốn trú ngụ rạng rỡ của cả thế giới đã hình thành. Kiến trúc luôn được hình thành bằng quyền lực. Có nhiều loại quyền lực nhưng cuối cùng đều quy về quyền lực vật chất. Quyền lực này không nằm trong tay KTS mà nó đóng vai Mạnh thường quân, hình thành cơ thể vật chất của ý tưởng kiến trúc. Hoặc ngược lại, giam giữ vĩnh viễn trên giấy những ý tưởng kiến trúc mà vị Mạnh thường quân cho là không phù hợp.

Cho một bước đi vào hiện đại, xã hội cần có luật KTS. Là cơ chế giao quyền lực và trách nhiệm kiến trúc trong sự cân bằng vì một giá trị kiến trúc lâu dài, mà không cản trở quy luật phát triển của thị trường. Qua đó, xã hội kiên định chủ trương:
Tạo sự bình đẳng giữa nhà tổ chức và KTS trong các cuộc thi tuyển kiến trúc.
Bảo vệ KTS không làm nghề theo cơ chế làm thuê đơn thuần (dù là thuê tư vấn).
Bảo đảm sự đầu tư hợp lý và theo thị trường giá trị về cơ cấu thiết kế phí trong Hợp đồng.
Đảm bảo sự bình đẳng trong chính sách hợp tác khu vực và quốc tế. Có nhắm đến tạo điều kiện xây dựng nguồn nhân lực lâu dài.

Nói tóm lại, mỗi công trình kiến trúc là một tích hợp phức tạp nhiều thứ cơ chế vật chất và xã hội, thì hoạt động sáng tạo có liên quan cũng mở ra nhiều mối nối phức tạp tương thích.

Đi vào hiện đại bắt đầu từ từng người KTS. Nhưng không chỉ có vậy, mà phải cả một môi trường xã hội và pháp chế.

KTS. Nguyễn Văn Tấ

Wednesday, August 4, 2010

Tiêu chuẩn khách sạn 6 – 7 sao


Xem hìnhKhách du lịch thường quen với khách sạn 4 sao, 5 sao nhưng cũng có khách sạn quảng cáo là 6 sao, 7 sao… Có gì đặc biệt ở đó? Ai công nhận?

  
Bài cùng chuyên đề: 

Thế giới hiện chưa có một tiêu chuẩn cụ thể, đồng nhất và chính thức nào về việc phong sao khách sạn.
Tiêu chuẩn Úc, hoạt động theo AAA Tourism thì khách sạn 5 sao phải có dịch vụ phòng, dịch vụ concierge (như vé máy bay, gửi đồ, cung cấp bản đồ, gọi xe cho khách), phải có các trang thiết bị đẹp, có nhiều loại phòng… Ở Anh thì ETC (English Tourism Council’s) cũng quy định chung chung phòng phải rộng, nhân viên chuyên nghiệp, không gian sang trọng…
Mỗi nước có những tiêu chuẩn riêng và những tiêu chuẩn ấy vẫn chỉ là một sự cố gắng đáp ứng những yêu cầu của khách hàng và nâng cao tiêu chuẩn về sản phẩm du lịch nước mình. Ở Việt Nam, Tổng cục Du lịch có ban hành quy định về tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn từ năm 2001.
Trên thế giới có một số khách sạn 6 sao và 7 sao, đương nhiên là cũng không theo những tiêu chuẩn đồng nhất nào. Những khách sạn ấy được hiểu là đã được xây dựng rất sang trọng, khác biệt để mọi người có thể thưởng lãm, ngắm nhìn nhưng không thể bắt chước. Các trang thiết bị độc đáo, mắc tiền, có thể đặt thủ công từng thứ một như chiếc giường trị giá hàng chục ngàn USD, những chiếc gối lông êm mượt hay tấm thảm dệt tay từ sợi thiên nhiên.
Khách sạn đang được quảng cáo là 6 sao và sẽ tiến đến 7 sao Buri Al Arab ở Dubai. Đây là một khách sạn được xây dựng trên một vịnh biển, theo mô hình một chiếc thuyền buồm ngự trị trên những lượn sóng biển. Khách sạn cao 321m, bao gồm 202 suite (chỉ có phòng thượng hạng). Khách sẽ được đón trên một chiếc Roll – Royce, được mời chọn lựa trong danh sách 13 loại gối thượng hạng để bảo đảm một giấc ngủ ngon và thực đơn của nhà hàng sẽ được lập ra bởi yêu cầu của khách. Một số phòng có thang máy riêng, cầu thang dát vàng, phòng chiếu phim, thảm lông báo…
Khi nguyên thủ quốc gia hay chính khách đến Việt Nam, mỗi khách sạn 5 sao thường lựa ra một người phục vụ (người này được phép lên tầng nhưng chưa chắc được tiếp xúc với khách) gọi là butler. Butler thường phải vượt qua rất nhiều vòng kiểm soát gắt gao về tay nghề và cả lý lịch bởi các nhân viên an ninh, lãnh sự. Ở khách sạn Buri Al Arab, butler có mặt 24/24 giờ và mỗi vị khách đều là nguyên thủ quốc gia.
Campuchia cũng có khách sạn 6 sao Amansara ở đường Norodom Sihanouk, giá phòng 700 USD/đêm, bao gồm tiền xe và tài xế đưa bạn đến các đền đài Angkor. Một điều không thể thiếu ở khách sạn 6 sao là công tác check-in phải chất lượng cao, và đội ngũ tiếp tân luôn thường trực nụ cười trên môi. Xếp hàng chờ nhận phòng ở quầy tiếp tân là điều không thể chấp nhận ở các khách sạn này. Check-in phải tiến hành từ trước khi khách đến khách sạn.
Đương nhiên những tiêu chuẩn trên không được định ra bởi bất cứ một tổ chức quốc tế hay hiệp hội khách sạn nào, nhưng các khách sạn 6 và 7 sao sẽ tự đặt ra để tự đáp ứng khách hàng của mìnhbằng trang thiết bị, dịch vụ cực kỳ độc đáo. Và đôi khi, cái “sao” (star rating) là một phần trong tiếp thị nhằm định vị khách hàng, vị trí trên thị trường và cả… giá cả nữa!
Một chuyên gia nhận xét: Khách sạn 6 sao chính là sự kết hợp của design và sự xa xỉ.
* Xếp hạng khách sạn căn cứ vào đâu?
Khách sạn đạt tiêu chuẩn xếp hạng từ 1 đến 5 sao: là khách sạn có cơ sở vật chất, trang thiết bị, chất lượng phục vụ cao, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách du lịch về ăn, nghỉ, sinh hoạt, giải trí theo tiêu chuẩn của từng hạng, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, được đánh giá thông qua các chỉ tiêu:
1. Vị trí, kiến trúc
2. Trang thiết bị, tiện nghi phục vụ
 3. Dịch vụ và mức độ phục vụ
4. Nhân viên phục vụ
5. Vệ sinh
* Quy định về thiết kế kiến trúc
Khách sạn 4 sao: Kiến trúc, xây dựng kiểu dáng đẹp, vật liệu xây dựng chất lượng cao, nội ngoại thất được thiết kế hợp lý, đẹp.
Khách sạn 5 sao: Kiến trúc cá biệt, kiểu dáng đẹp, vật liệu xây dựng cao cấp. Nội ngoại thất được thiết kế đẹp, trang nhã, toàn cảnh được thiết kế thống nhất.
* Quy định về chất lượng và thái độ phục vụ
Khách sạn 4 sao: Chất lượng phục vụ và thái độ phục vụ rất tốt, tận tình, chu đáo luôn sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu chính đáng của khách.
Khách sạn 5 sao: Chất lượng phục vụ hoàn hảo, thái độ phục vụ tận tình, chu đáo, luôn sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu chính đáng của khách.

Tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn






TỔNG CỤC DU LỊCH Số:02/2001/QĐ-TCDLCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Ðộc lập – Tự do – Hạnh phúc
 
Hà Nội, ngày 27 tháng 4 năm 2001
QUYẾT ĐỊNH CỦA TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC DU LỊCH
  Về việc bổ sung, sửa đổi Tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn
               TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC DU LỊCH
Bài cùng chuyên đề:
- Căn cứ Nghị định số 15/CP ngày 2-3-1993 của Chính phủ về nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- Căn cứ Nghị định số 20/CP ngày 27-12-1992 và Nghị định số 53/CP ngày 7-8-1995 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch;
- Căn cứ Nghị định số 39/2000/NĐ-CP ngày 24-8-2000 về cơ sở lưu trú du lịch;
- Căn cứ Quyết định số 107/TCDL ngày 22-6-1994 của Tổng cục Du lịch về việc ban hành tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn du lịch;
- Nhằm hoàn thiện tiêu chuẩn, bảo đảm phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và hiện trạng các khách sạn trong tình hình hiện nay;
- Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Khách sạn,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này bản quy định tiêu chuẩn và biểu điểm xếp hạng khách sạn theo 5 hạng (từ 1 đến 5 sao), đã được bổ sung, sửa đổi trên cơ sở tiêu chuẩn và biểu điểm ban hành tại Quyết định số 107/TCDL ngay 22-6-1994 của Tổng cục Du lịch.
Điều 2. Tiêu chuẩn này có hiệu lực kể từ ngày ký, những quy định trước đây trái với Quy định này đều bãi bỏ.
Điều 3. Các ông, bà Chánh Văn phòng, Vụ trưởng các Vụ của Tổng cục Du lịch, Giám đốc Sở Du lịch (Sở Thương mại – Du lịch), Giám đốc các khách sạn chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC DU LỊCH
Phó Tổng cục trưởng
(đã ký) Vũ Tuấn Cảnh
QUY ĐỊNH
Về tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn

(Ban hành kèm theo Quyết định số 02 /2001/QĐ-TCDL
ngày 27 tháng 4 năm 2001 của Tổng cục Du lịch )
Khách sạn là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, bảo đảm chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch.
Khách sạn đạt tiêu chuẩn xếp hạng từ 1 đến 5 sao: là khách sạn có cơ sở vật chất, trang thiết bị, chất lượng phục vụ cao, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách du lịch về ăn, nghỉ, sinh hoạt, giải trí theo tiêu chuẩn của từng hạng, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, được đánh giá thông qua các chỉ tiêu:
1.Vị trí, kiến trúc
2.Trang thiết bị, tiện nghi phục vụ
3. Dịch vụ và mức độ phục vụ
4. Nhân viên phục vụ
5. Vệ sinh
Khách sạn hạng càng cao, yêu cầu chất lượng phục vụ, trang thiết bị tiện nghi, số lượng các dịch vụ càng phải đầy đủ, hoàn hảo, đáp ứng được yêu cầu đa dạng của khách.
A- YÊU CẦU CHUNG
- Vị trí : Khách sạn phải được xây dựng cách bệnh viện, trường học ít nhất 100 mét căn cứ vào ranh giới giữa hai cơ sở; không được nằm trong hoặc liền kề khu vực quốc phòng, an ninh và các mục tiêu cần được bảo vệ theo quy định hiện hành.
- Thiết kế kiến trúc:
- Dây truyền phục vụ giữa các bộ phận và trong từng bộ phận dịch vụ trong khách sạn : được bố trí hợp lý, bảo đảm thuận tiện, một chiều.
- Bảng tên; hạng khách sạn; phù hiệu khách sạn (nếu có) : được đặt ở nơi dễ thấy (kể cả ban ngày và ban đêm).
- Cửa ra, vào của khách sạn : được bố trí thuận tiện, tối thiểu phải có 2 cửa, cửa dành riêng cho khách và cửa dành riêng cho cán bộ, công nhân viên phục vụ trong khách sạn.
- Chỗ để xe : Khách sạn phải bố trí chỗ để xe cho khách.
- Buồng : Diện tích tối thiểu của buồng ngủ, phòng vệ sinh (m2)
+ Buồng ngủ:
Buồng 2 phòng: 22 m2  
+ Buồng đơn: 9 m2  
+ Buồng đôi: 14 m2
+ Buồng 3, 4 giường:18 m2
Phòng vệ sinh:4 m2
Các khách sạn phục vụ khách với mục đích nghỉ dưỡng (nghỉ biển, nghỉ núi…) nên có diện tích để đặt thêm giường thứ 3 (trong trường hợp khách yêu cầu).
+ Sảnh : Sảnh đón tiếp (nơi có cửa ra, vào chính của khách sạn) phải đủ rộng để đón khách, phù hợp với quy mô của khách sạn.
+ Phòng vệ sinh ở các khu vực công cộng (khu vực đón tiếp, phòng ăn…) có phòng cho nam và nữ riêng.
- Hệ thống điện :
+ Độ chiếu sáng đảm bảo theo yêu cầu của từng khu vực.
+ Đèn cấp cứu để đề phòng khi có sự cố xảy ra.
+ Cung cấp điện đầy đủ 24/24 giờ cho sinh hoạt và phục vụ.
- Hệ thống nước :
+ Nước đủ cho sinh hoạt và phòng cháy, chữa cháy 24/24 giờ.
+ Cấp nước nóng : 24/24 giờ.
+ Hệ thống xử lý nước thải và chất thải, đảm bảo tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường.
- Trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy : Có hệ thống báo cứu hoả và phương tiện phòng cháy, chữa cháy.
- Phòng vệ sinh công cộng : có trang bị máy hơ tay, hoặc khăn tay, giấy lau tay.
Các dịch vụ được qui định theo từng hạng khách sạn và phải luôn sẵn sàng phục vụ.
- Về nghiệp vụ : Những người quản lý và nhân viên phục vụ phải qua đào tạo và bố trí theo đúng nghiệp vụ chuyên môn.
- Về sức khoẻ : Những nhân viên phục vụ phải qua kiểm tra sức khoẻ (có giấy chứng nhận).
- Về trang phục : Những người quản lý và nhân viên phục vụ phải mặc đồng phục đúng theo quy định của khách sạn đối với từng chức danh và từng bộ phận dịch vụ trong thời gian làm việc tại khách sạn. 
5. Thực hiện các biện pháp để bảo đảm yêu cầu về vệ sinh trong các lĩnh vực sau :  
+ Vệ sinh môi trường, cảnh quan xung quanh khách sạn
+ Vệ sinh các khu vực trong khách sạn.
+ Vệ sinh trang thiết bị, dụng cụ phục vụ khách.
+ Vệ sinh thực phẩm.
+ Vệ sinh cá nhân (đối với nhân viên phục vụ)
B-YÊU CẦU ĐỐI VỚI TỪNG HẠNG
I-Yêu cầu về vị trí, kiến trúc 
Các chỉ tiêu1 sao2 sao3 sao4 sao5 sao
1. Vị trí - Giao thông thuận tiện
- Môi truờng, cảnh quan đảm bảo vệ sinh
- Giao thông thuận tiện
- Môi truờng, cảnh quan đảm bảo vệ sinh
- Giao thông thuận tiện
- Môi truờng cảnh quan sạch, đẹp
- Giao thông thuận tiện
- Môi truờng cảnh quan sạch, đẹp
- Giao thông thuận tiện
- Môi truờng cảnh quan sạch, đẹp
2. Thiết kế kiến trúc- Thiết kế kiến trúc đạt tiêu chuẩn, có thể sử dụng thiết kế mẫu- Thiết kế kiến trúc đạt tiêu chuẩn, vật liệu xây dựng tốt- Kiến trúc, xây dựng đẹp, vật liệu xây dựng tốt, nội ngoại thất được thiết kế  hợp lý- Kiến trúc, xây dựng kiểu dáng đẹp, vật liệu xây dựng chất lượng cao,  nội ngoại thất được thiết kế  hợp lý, đẹp- Kiến trúc cá biệt, kiểu dáng đẹp, vật liệu xây dựng cao cấp. Nội ngoại thất được thiết kế đẹp, trang nhã, toàn cảnh được thiết kế thống nhất
3. Qui mô khách sạn (số lượng buồng)- Có tối thiểu 10 buồng- Có tối thiểu 20 buồng- Có tối thiểu 50 buồng- Có tối thiểu 80 buồng- Có tối thiểu 100 buồng
4. Không gian xanh- Chậu cây xanh đặt ở những nơi công cộng- Có sân trời, chậu cây xanh ở những nơi công cộng- Có sân, vườn cây xanh (Không bắt buộc đối với các khách sạn ở trung tâm thành phố)- Không bắt buộc đối với các khách sạn ở trung tâm thành phố)- Có sân và vườn rộng (Không bắt buộc đối với các khách sạn ở trung tâm thành phố)
5. Khu vực gửi xe- Có nơi gửi xe cho khách ngoài khu vực khách sạn- Có nơi gửi xe cho khách ngoài khu vực khách sạn- Có nơi gửi xe cho khách ngoài khu vực khách sạn- Nơi gửi xe trong khu vực khách sạn, đủ cho 30 % tổng số buồng (Không bắt buộc đối với các khách sạn xây dựng trước ngày 1/1/1995 )Nơi gửi xe trong khu vực khách sạn, đủ cho 50 % tổng số buồng (Không bắt buộc đối với các khách sạn xây dựng trước ngày 1/1/1995 )
6. Các loại phòng ăn, uống - Phòng ăn
- Bar thuộc phòng ăn
- Phòng ăn
- Bar thuộc phòng ăn
- Các phòng ăn
- Bar
- Các phòng ăn Âu, Á
- Các phòng tiệc
- Phòng ăn đặc sản
- Bar
- Bar đêm (có sàn nhảy và dàn nhạc)
- Các phòng ăn Âu, Á
- Các phòng tiệc
- Các phòng ăn đặc sản
- Các bar
- Bar đêm (có sàn nhảy và dàn nhạc)
7. Khu phục vụ hành chính- Phòng làm việc của Giám đốc, Phó Giám đốc
- Phòng nghiệp vụ chuyên môn
- Phòng trực (chung cho tất cả các buồng  trong khách sạn)
- Phòng cho nhân viên phục vụ :
+ Phòng thay quần áo
+ Phòng tắm, vệ sinh- Kho để đồ
- Khu bếp, kho bảo quản thực phẩm
Khu bếp:
Tường ốp gạch men sứ, cao tối thiểu 2 m, sàn lát vật liệu chống trơnCó hệ thống thông gió tốt
- Phòng làm việc của Giám đốc, Phó Giám đốc
- Phòng nghiệp vụ chuyên môn
- Phòng trực (chung cho tất cả các buồng trong khách sạn)
- Phòng cho nhân viên phục vụ :
+ Phòng thay quần áo
+ Phòng tắm, vệ sinh- Kho để đồ
- Khu bếp, kho bảoquản thực phẩm
Khu bếp :
Tường ốp gạch men sứ, cao tối thiểu 2 m sàn lát vật liệu chống trơn.Có hệ thống thông gió tốt
- Phòng làm việc của Giám đốc, Phó Giám đốc
- Phòng tiếp khách
- Các phòng nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật
- Phòng trực tầng
- Phòng cho nhân viên phục vụ :
+ Phòng thay quần áo riêng cho nam và nữ
+ Phòng tắm, vệ sinh riêng cho nam và nữ- Khu giặt là
- Kho để đồ
- Khu bếp, kho bảo quản thực phẩm
Khu bếp :
+Tường phải ốp gạch men sứ, cao tối thiểu 2 m, sàn lát vật liệu chống trơn
+Khu vực chế biến thức ăn nóng, nguội được tách riêngCó hệ thống thông gió tốt
- Phòng làm việc của Giám đốc, Phó Giám đốc
- Phòng tiếp khách
- Các phòng nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật
- Phòng trực tầng
- Phòng cho nhân viên phục vụ :
+ Phòng thay quần áo riêng cho nam và nữ
+ Phòng tắm, vệ sinh riêng cho nam và nữ
+ Phòng ăn cho nhân viên phục vụ
- Khu giặt là
- Kho để đồ
 - Khu bếp, kho bảo quản thực phẩm
Khu bếp :
+ Tường ốp gạch men sứ, cao tối thiểu 2 m, sàn lát vật liệu chống trơn
+ Khu vực chế biến thực ăn nóng, nguội, bếp bánh riêng biệt
+ Trang bị đủ kho lạnh, các kho đủ thông thoáng
+ Có cửa cách âm, cách nhiệt và cách mùi, phòng đệm giữa bếp và phòng ăn.
Có hệ thống thông gió tốt
- Phòng làm việc của Giám đốc, Phó Giám đốc
- Phòng tiếp khách
- Các phòng nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật
- Phòng trực tầng
- Phòng cho nhân viên phục vụ :
+ Phòng thay quần áo riêng cho nam và nữ
+ Phòng tắm, vệ sinh riêng cho nam và nữ
+ Phòng ăn cho nhân viên phục vụ
- Khu giặt là
- Kho để đồ
- Khu bếp, kho bảo quản thực phẩm
Khu bếp :
+Tường ốp gạch men sứ, cao tối thiểu 2 m, sàn lát vật liệu chống trơn
+ Khu vực chế biến thức ăn nóng, nguội riêng biệt
+ Trang bị đủ kho lạnh, các kho đủ thông thoáng
+ Có cửa cách âm, cách nhiệt và cách mùi, phòng đệm giữa bếp và phòng ăn.
Có hệ thống thông gió tốt

II- Yêu cầu về trang thiết bị, tiện nghi
Các chỉ tiêu1 sao2 sao3 sao4 sao5 sao
1. Yêu cầu về chất lượng mỹ thuật các trang thiết bị trong các khu vực (tiếp tân, buồng, phòng ăn, bếp và các dịch vụ khác )- Chất lượng đảm bảo
Bài trí hài hoà (Tham khảo Phụ lục 3)
Đối với buồng ngủ :
- Trang trí nội thất hài hoà, đủ ánh sáng lượng khá
- Chất lượng khá. Bài trí hài hoà (Tham khảo Phụ lục 3)
Đối với buồng ngủ :
- Trang trí nội thất hài hoà, đủ ánh sáng. Trang thiết bị đồng bộ, chất lượng tốt
- Đồng bộ, chất lượng tốt.
Bài trí hài hoà (Tham khảo phụ lục 3)
Đối với buồng ngủ :
- Trang trí nội thất hài hoà, đủ ánh sáng. Trang thiết bị đồng
- Đồng bộ, chất lượng cao.
Bài trí hài hoà, thuận tiện (Tham khảo Phụ lục 3)
Đối với buồng ngủ :
- Trang trí nội thất đẹp, hài hoà, đủ ánh sáng. Trang thiết bị đồng bộ, chất lượng cao.
- Đồng bộ, hiện đại, chất lượng cao, trang trí nghệ thuật, hấp dẫn (khuyến khích mang tính dân tộc). (Tham khảo Phụ lục 3)
Đối với buồng ngủ :
- Trang trí nội thất đẹp, hài hoà, đủ ánh sáng. Trang thiết bị đồng bộ, hiện đại chất lượng cao
2. Yêu cầu về thảm- Có thảm trải toàn bộ trong buồng ngủ- Có thảm chất lượng cao trải toàn bộ trong buồng ngủ, hành lang, cầu thang.- Có thảm trải chất lượng cao trải toàn bộ trong buồng ngủ, hành lang, cầu thang
3. Thiết bị điều hoà thông thoáng trong các khu vực chung- Đảm bảo thông thoáng ở các khu vực- Đảm bảo thông thoáng ở các khu vực- Có điều hoà nhiệt độ ở các khu vực công cộng- Có điều hoà nhiệt độ ở các khu vực công cộng- Có điều hoà nhiệt độ trung tâm ở các khu vực công cộng
4. Hệ thống lọc nước- Có hệ thống lọc nước, có thể uống trực tiếp.- Có hệ thống lọc nước, có thể uống trực tiếp
5. Thang máy- Từ 4 tầng trở lên có  thang máy riêng cho khách, cho nhân viên phục vụ và hàng hoá- Từ 4 tầng trở lên có thang máy riêng cho khách, cho nhân viên phục vụ và  hàng hoá- Từ 3 tầng trở lên có  thang máy riêng cho khách, cho nhân viên phục vụ và hàng hoá- Từ 3 tầng trở lên có  thang máy riêng cho khách, cho nhân viên phục vụ và hàng hoá
- Có thang máy phục vụ khách bị tàn tật
- Từ 3 tầng trở lên có thang máy riêng cho khách, cho nhân viên phục vụ và  hàng hoá
- Có thang máy phục vụ khách bị tàn tật
6. Trang thiết bị buồng ngủXem Phụ lục số 1- Như 1 sao
Có thêm :
Đồ vải :+ Tấm phủ chăn
+ Tấm phủ giưòng
Đồ điện :
+ Chuông gọi cửa
+ Ti vi cho 90 %
tổng số buồng, có ăng ten vệ tinh
+ Điều hoà nhiệt độ cho 90 % tổng số buồng
+ Tủ lạnh cho 90 % tổng số buồng
Các loại khác
 :
+ Bàn chải đánh giầy, bàn chải quần áo
- Như 2 sao
Có thêm :
Đồ gỗ :
+ Bàn salon, 2 ghế
+ Bàn trang điểm, ghế
Đồ điện :
+ Ti vi cho 100% tổng số buồng
+ Điều hoà nhiệt độ cho 100 % tổng số buồng
+ Tủ lạnh (mini bar) cho 100% tổng số buồng
+ Thiết bị báo cháy
Các loại khác :
+ Tranh treo tường
+ Bộ đồ ăn hoa quả, dụng cụ mở bia, rượu
+ Mút đánh giầy
- Như 3 sao
Có thêm :
Đồ điện :
+ Bảng điều khiển cạnh giường (điều khiển các đồ điện)
+ Ti vi mầu với mạch VIDEO cho 100% tổng số buồng, có trung tâm phát hình của khách sạn.
+ Radio casette hoặc hệ thống nhạc trung tâm của khách sạn
+ Máy FAX cho những buồng đặc biệt
+ Ổ khoá điện từ dùng thẻ
7. Trang thiết bị phòng vệ sinh- Xem Phụ lục số 2- Như 1 sao- Như 2 saoCó thêm :
+ Bồn tắm nằm (hoặc phòng tắm kính) cho 50 % tổng số buồng
+ Điện thoại
+ Máy sấy tóc
+ Màn che bồn tắm
+ Mũ tắm
+ Nước gội đầu
+ Dao cạo râu
+ Bông ngoáy tai
+ Túi ny lông để bỏ giấy vệ sinh phụ nữ
- Như 3 saoCó thêm :
+ Bồn tắm nằm (hoặc phòng tắm kính) cho 100 % tổng số buồng
+ Áo choàng sau khi tắm
- Như 4 saoCó thêm :
+ Bồn tắm nằm (cho 100% số buồng)và phòng tắm kính (cho 30% tổng số buồng
+ Dầu xoa da
+ Cân kiểm tra sức khoẻ
+ Thiết bị vệ sinh cho phụ nữ (biđê)
+ Băng vệ sinh phụ nữ

III-Yêu cầu các dịch vụ trong khách sạn và mức độ phục vụ
Các chỉ tiêu1 sao2 sao3 sao4 sao5 sao
1. Phục vụ buồng- Thay ga, gối giường ngủ 1 lần/ 2 ngày
- Thay khăn mặt, khăn tắm 1 lần/1 ngày
- Vệ sinh phòng hàng ngày, niêm phong thiết bị vệ sinh và cốc
- Nhân viên trực buồng 24/24h 
- Như 2 sao
Có thêm :
- Đặt phong bì, giấy viết thư, bản đồ thành phố
- Đồng bộ, chất lượng tốt.
Bài trí hài hoà (Tham khảo Phụ lục 3)
Đối với buồng ngủ :
- Trang trí nội thất hài hoà, đủ ánh sáng. Trang thiết bị đồng bộ
- Như 3 sao
Có thêm :
- Thay khăn mặt, khăn tắm 2 lần/ 1 ngày
- Đặt hoa tươi (hàng ngày)
- Đặt quả tươi (hàng ngày)
- Đặt báo, tạp chí (hàng ngày)
- Như 4 sao
Có thêm :
- Vệ sinh phòng 2 lần/ 1 ngày
2. Phục vụ ăn uống- Số giờ phục vụ ăn, uống, giải khát từ 6 đến 22 giờ
- Các loại dịch vụ ăn, uống : phục vụ các món ăn Âu, Á, tiệc với số lượng các món ăn hạn chế và các món ăn dễ chế biến; phục vụ một số loại nước giải khát thông dụng
- Số giờ phục vụ ăn, uống, giải khát từ 6 đến 22 giờ
- Phục vụ ăn, uống tại buồng nếu khách có yêu cầu
- Các dịch vụ ăn, uống: phục vụ các món ăn Âu, Á, tiệc với số lượng món ăn phong phú hơn và các loại món ăn chế biến đòi hỏi kỹ thuật cao hơn so với các khách sạn 1 sao; phục vụ một số loại nước giải khát
- Số giờ phục vụ ăn, uống, giải khát từ 6 đến 24 giờ
- Phục vụ ăn uống tại buồng nếu khách có yêu cầu
- Các dịch vụ ăn, uống : phục vụ các món ăn Âu, Á, tiệc với số lượng phong phú, chế biến được các món ăn có kỹ thuật cao, đảm bảo chất lượng tốt; phục vụ nước giải khát các loại (do khách sạn tự pha chế)
- Số giờ phục vụ ăn, uống, giải khát từ 6 đến 24 giờ
- Phục vụ ăn uống  tại buồng nếu khách có yêu cầu
- Phòng ăn đặc sản phục vụ từ 6 – 24 giờ
- Các dịch vụ ăn uống : phục vụ các món ăn Âu, Á, tiệc cao cấp; phục vụ nước giải khát các loại (do khách sạn tự pha chế). Món ăn, đồ uống chất lượng cao, thực đơn thường xuyên thay đổi
-  Phục vụ ăn sáng tự chọn
- Số giờ phục vụ ăn, uống, giải khát 24/24 giờ
- Phục vụ ăn uống tại buồng nếu khách có yêu cầu
- Phòng ăn đặc sản phục vụ từ 6 – 24 giờ
- Các dịch vụ ăn uống : phục vụ các món ăn Âu, Á, tiệc cao cấp, có đặc sản Việt Nam, quốc tế; phục vụ nước giải khát các loại (do khách sạn tự pha chế).  Món ăn, đồ uống chất lượng cao, thực đơn thường xuyên thay đổi
- Phục vụ ăn sáng tự chọn
3. Các dịch vụ bổ sung khác-Đón tiếp
(Reception) trực 24/24 giờ
- Nhận giữ tiền và đồ vật quý (tại lễ tân)
- Đổi tiền ngoại tệ
- Dịch vụ bưu điện gửi thư cho khách
- Đánh thức khách
- Chuyển hành lý cho khách từ xe lên buồng ngủ
- Giặt là
- Dịch vụ y tế, cấp cứu : có tủ thuốc với các loại thuốc cấp cứu thông dụng
- Điện thoại công cộng
- Điện thoại trong phòng: Gọi được liên tỉnh và Quốc tế thông qua điện tín viên
- Như 1 sao
Có thêm :
- Nhận giữ tiền và đồ vật quý (có phòng an toàn)
- Quầy lưu niệm, mỹ phẩm
- Lấy vé máy bay, tầu xe
- Như 2 sao
Có thêm :
- Cho thuê văn hoá phẩm, dụng cụ thể thao
- Phòng họp
- Phòng khiêu vũ
- Dịch vụ xe taxi (có xe ô tô của khách sạn)
- Các dịch vụ : Bán tem, gửi thư, fax, rửa ảnh, đánh máy, photocopy
- Dịch vụ thông tin
- Điện thoại trong buồng : Gọi được liên tỉnh, thành phố trực tiếp từ phòng
- Bể bơi (vùng biển)
- Xe đẩy cho người tàn tật
- Như 3 sao
Có thêm :
- Cửa hàng lưu niệm, bách hoá, mỹ phẩm (thay quầy lưu niệm mỹ phẩm)
- Phòng cắt tóc nam, nữ
- Lấy vé xem nhạc, kịch
- Giặt là lấy ngay trong ngày
- Đánh giầy, sửa chữa giầy.
- Chụp ảnh, quay Video
- Phòng hội nghị có phiên dịch
- Dàn nhạc
- Dịch vụ dịch thuật
- Câu lạc bộ giải trí
- Phòng tập thể thao
- Phòng xông hơi, xoa bóp
- Phòng y tế nhỏ
- Bể bơi
- Sân tennis (vùng biển )
- Như 4 sao
Có thêm :
- Phòng chiếu phim hoặc hoà nhạc
- Phòng hội nghị với các thiết bị phục vụ hội nghị và thiết bị dịch thuật
- Cho thuê ô tô (khách tự lái)
- Thông tin : Bưu điện và quầy thông tin
- May đo
- Dịch vụ thẩm mỹ
- Sân tennis
- Dịch vụ cho người tàn tật (tiện nghi, phòng cho người tàn tật, người phục vụ)
- Trông giữ trẻ

IV-Yêu cầu về nhân viên phục vụ 
Các chỉ tiêu1 sao2 sao3 sao4 sao5 sao
1. Chuyên môn, nghiệp vụ,   hình thứcĐối với cán bộ quản lý khách sạn (Giám đốc)
- Trình độ văn hoá :  Đại học
- Trình độ chuyên môn :
+ Đã qua khoá học quản trị kinh doanh khách sạn tối thiểu 3 tháng
+ Đã công tác tại khách sạn tối thiểu 1 năm
- Trình độ ngoại ngữ: biết một ngoại ngữ thông dụng (bằng B), đủ khả năng giao tiếp
- Hình thức bên ngoài : không có dị tật, có khả năng giao tiếp
Đối với cán bộ quản lý khách sạn (Giám đốc)- Trình độ văn hoá :  Đại học
- Trình độ chuyên môn :
+ Đã qua khoá học quản trị kinh doanh khách sạn hoặc quản lý kinh tế du lịch tối thiểu 3 tháng (nếu không phải là đại học chuyên ngành)
+ Đã công tác tại khách sạn tối thiểu 1 năm
- Trình độ ngoại ngữ: biết một ngoại ngữ thông dụng(bằng B), đủ khả năng giao tiếp
- Hình thức bên ngoài : không có dị tật, có khả năng giao tiếp
Đối với cán bộ quản lý khách sạn (Giám đốc)
- Trình độ văn hoá :  Đại học
- Trình độ chuyên môn :
+ Đã qua khoá học quản trị kinh doanh khách sạn hoặc quản lý kinh tế du lịch tối thiểu 6 tháng (nếu không phải là đại học chuyên ngành)
+ Đã tham gia công tác quản lý (từng phần) trong khách sạn tối thiểu 2 năm
- Trình độ ngoại ngữ: biết một ngoại ngữ thông dụng (bằng C), giao tiếp thông thạo
- Hình thức bên ngoài :  không có dị tật, phong cách giao tiếp lịch sự, sang trọng
Đối với cán bộ quản lý khách sạn (Giám đốc)
- Trình độ văn hoá:  Đại học
- Trình độ chuyên môn :
+ Đã qua khoá học quản trị kinh doanh khách sạn hoặc quản lý kinh tế du lịch tối thiểu 1 năm (nếu không phải là đại học chuyên ngành)
+ Đã tham gia công tác quản lý (từng phần) trong khách sạn tối thiểu 3 năm
- Trình độ ngoại ngữ: biết một ngoại ngữ thông dụng ở mức độ thông thạo
- Hình thức bên ngoài :  không có dị tật, phong cách giao tiếp lịch sự, sang trọng
Đối với cán bộ quản lý khách sạn (Giám đốc)
- Trình độ văn hoá: Đại học
- Trình độ chuyên môn :
+ Đã qua khoá học quản trị kinh doanh khách sạn hoặc quản lý kinh tế du lịch tối thiểu 1 năm (nếu không phải là đại học chuyên ngành)
+ Đã tham gia công tác quản lý (từng phần) trong khách sạn tối thiểu 3 năm
- Trình độ ngoại ngữ: biết một ngoại ngữ thông dụng ở mức độ thông thạo
- Hình thức bên  ngoài : không có dị tật, phong cách giao tiếp lịch sự, sang trọng
Đối với nhân viên phục vụ : - Tỷ lệ được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ (trừ những lao động đơn giản) : 90%
- Ngoại ngữ : Nhân viên trực tiếp phục vụ biết 1 ngoại ngữ thông dụng trong phạm vi giao dịch
- Ngoại hình cân đối, không có dị tật, có khả năng giao tiếp (đặc biệt đối với nhân viên trực tiếp phục vụ)
Đối với nhân viên phục vụ : - Tỷ lệ được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ (trừ những lao động đơn giản) : 95%
- Ngoại ngữ : Nhân viên trực tiếp phục vụ biết 1 ngoại ngữ thông dụng trong phạm vi giao dịch
- Ngoại hình cân đối, không có dị tật, có khả năng giao tiếp (đặc biệt đối với nhân viên trực tiếp phục vụ)
Đối với nhân viên phục vụ : -Tỷ lệ được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ (trừ những lao động đơn giản) : 100%
- Ngoại ngữ : Nhân viên trực tiếp phục vụ biết 1 ngoại ngữ thông dụng ở mức độ thông thạo
- Ngoại hình cân đối, không có dị tật, có khả năng giao tiếp (đặc biệt đối với nhân viên trực tiếp phục vụ)
Đối với nhân viên phục vụ : -Tỷ lệ được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ (trừ những lao động đơn giản) : 100%
Ngoại ngữ : Nhân viên trực tiếp phục vụ biết 1 ngoại ngữ thông dụng ở mức độ thông thạo
Riêng tiếp tân viên, điện thoại viên, Maitre d’ Hotel (mét-đô-ten) : biết 1 ngoại ngữ thông thạo và 1 ngoại ngữ trong phạm vi giao tiếp
- Ngoại hình cân đối, không có dị tật, có khả năng giao tiếp (đặc biệt đối với nhân viên trực tiếp phục vụ)
Đối với nhân viên phục vụ : -Tỷ lệ được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ (trừ những lao động đơn giản) : 100%
- Ngoại ngữ : Nhân viên trực tiếp phục vụ biết 1 ngoại ngữ thông dụng ở mức độ thông thạo
Riêng tiếp tân viên, điện thoại viên, Maitre d’ Hotel (mét-đô-ten) : biết 2 ngoại ngữ ở mức thông thạo
- Ngoại hình cân đối, không có dị tật, có khả năng giao tiếp (đặc biệt đối với nhân viên trực tiếp phục vụ)
- Ngoại hình cân đối, không có dị tật, có khả năng giao tiếp (đặc biệt đối với nhân viên trực tiếp phục vụ)
2. Chất lượng và thái độ phục vụ- Chất lượng phục vụ và thái độ phục vụ tốt- Chất lượng phục vụ và thái độ phục vụ tốt- Chất lượng phục vụ và thái độ phục vụ tốt- Chất lượng phục vụ và thái độ phục vụ rất tốt, tận tình, chu đáo luôn sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu chính đáng của khách- Chất lượng phục vụ hoàn hảo, thái độ phục vụ tận tình, chu đáo, luôn sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu chính đáng của khách.

 
Phụ lục 1
TRANG THIẾT BỊ NỘI THẤT BUỒNG KHÁCH SẠN 1 SAO
1- Đồ gỗ 
- Giường ngủ
- Bàn đầu giường
- Tủ để quần áo
- Bàn và ghế ngồi làm việc (có thể đặt thêm gương để làm bàn trang điểm)
- Bàn trà, ghế
- Hộp màn (trong trường hợp có muỗi)
- Giá để hành lý
2- Đồ vải 
- Đệm mút có vải bọc
- Ga trải giường
- Gối
- Chăn len có vỏ bọc
- Ri đô che cửa 2 lớp (vải mỏng màu sáng, vải dầy màu tối )
3- Đồ điện 
- Điện thoại
- Đèn đầu giường
- Đèn bàn làm việc
- Đèn phòng
- Ti vi cho 80 % số buồng
- Điều hoà nhiệt độ cho 80 % số buồng (còn lại dùng quạt điện )
- Tủ lạnh cho 80 % số buồng
4- Đồ sành sứ, thuỷ tinh 
- Bộ ấm chén uống trà (nếu khách có yêu cầu )
- Phích nước (nếu khách có yêu cầu )
- Cốc thuỷ tinh
- Bình nước lọc
- Gạt tàn thuốc lá
5- Các loại khác 
- “Mắt thần” trên cửa buồng
- Dây khoá xích (khoá an toàn cho phòng ngủ)
- Mắc treo quần áo (để trong tủ )
- Dép đi trong nhà (mỗi giường một đôi )
- Sọt đựng rác
- Túi kim chỉ
- Túi đựng đồ giặt là
- Cặp da đựng : các ấn phẩm quảng cáo dịch vụ trong khách sạn và giá cả, danh bạ điện thoại, nội quy khách sạn, nội quy về số lượng trang thiết bị, bảng không quấy rầy
 
Phụ lục 2
TRANG THIẾT BỊ PHÒNG VỆ SINH KHÁCH SẠN 1 SAO
(Trong buồng ngủ của khách)
 
- Chậu rửa mặt (Lavabo)
- Bàn cầu bệt có nắp
- Vòi tắm hoa sen di động
- Vòi nước nóng, lạnh (hoà được vào nhau)
- Giá kính trên lavabo ( hoặc bệ đá )
- Gương soi (trên Lavabo)
- Giá treo khăn mặt, khăn tắm
- Khăn mặt và khăn tắm
- Mắc treo quần áo khi tắm
- Xà phòng tắm
- Cốc đánh răng
- Bàn chải đánh răng, kem đánh răng
- Hộp đựng giấy vệ sinh và cuộn giấy vệ sinh 
- Sọt đựng rác nhựa có nắp
 
Phụ lục 3
CHẤT LƯỢNG TRANG THIẾT BỊ CỦA TỪNG HẠNG KHÁCH SẠN
(Dùng để tham khảo)
Loại trang thiết bịKhách sạn loại 1, 2 saoKhách sạn loại 3, 4, 5 sao
 I- Buồng
1- Đồ gỗCó thể dùng đồ bán sẵn, không bị sứt, xước …, đồng mầu với các trang thiết bị khác trong phòng (không nên dùng bàn, ghế nhựa)Gỗ chất lượng cao (tẩm, ướp, sơn, ép…)ép. Thiết kế kiểu dáng đẹp, đồng bộ về màu sắc, kiểu dáng, kích cỡ và đồng màu với các trang thiết bị khác trong phòng, thể hiện được sự sang trọng, lịch sự
2- Đồ vải- Ga (bọc đệm, bọc gối) dùng vải coton trắng, không để xảy ra tình trạng bị ố, thủng…
- Ri đô 2 lớp : Lớp dầy có thể dùng bằng vải thun- Tấm phủ giường có thể dùng vải thun
(Ri đô, tấm phủ giường phải cùng gam mầu, phù hợp với mầu trang thiết bị khác và mầu của tường)- Khăn mặt, khăn tắm bằng sợi bông trắng, không để xẩy ra tình trạng bị ngả mầu
- Ga (bọc đệm, bọc gối) dùng vải coton trắng, không để xảy ra tình trạng bị ố, thủng…
- Ri đô 2 lớp : Lớp dầy có thể dùng bằng vải thun- Tấm phủ giường có thể dùng vải thun (Ri đô, tấm phủ giường phải cùng gam mầu, phù hợp với mầu trang thiết bị khác và mầu của tường)
- Khăn mặt, khăn tắm bằng sợi bông trắng, không để xẩy ra tình trạng bị ngả mầu.
- Đệm : Dùng loại dầy 20 cm, độ đàn hồi tốt
- Ga (bọc đệm, bọc gối) dùng vải coton trắng
- Ri đô 2 lớp : Lớp dầy có thể dùng bàng vải thô, cứng; lớp mỏng bằng ren trắng.
- Tấm phủ giường bằng vải thô dầy (hoặc trần bông)
- Thảm mịn, có khả năng chống cháy (Ri đô, tấm phủ giường, thảm trải phải cùng gam mầu, phù hợp với mầu trang thiết bị khác và mầu của tường)
- Khăn mặt, khăn tắm bằng sợi bông trắng, có in chìm biểu tượng và tên  của khách sạn
3- Đồ điệnCó thể sử dụng điều hoà (2 chiều) riêng cho từng phòng,  không có tiếng ồn, không bị rò rỉ; vô tuyến có thể dùng loại 14 Inch; tủ lạnh 50 lít.
Các loại đồ điện luôn đảm bảo hoạt động tốt.
Nên dùng điều hoà trung tâm, vô tuyến từ 21 Inch trở lên, tủ lạnh nhỏ 50 lít.
Các loại đồ điện nên sử dụng đồ của các hãng có chất lượng tốt  và rất tốt.
4- Đồ sành sứ, thuỷ tinh- Cốc, tách có thể sử dụng loại bán sẵn, nhưng cần đảm bảo sự đồng bộ
- Lavabo, bồn tắm, bàn cầu có thể sử dụng hàng sản xuất tại địa phương, không để tình trạng bị ố, nứt.
- Cốc, tách nên sử dụng loại men trắng, có in biểu tượng, tên của khách sạn
- Lavabo, bồn tắm, bàn cầu nên dùng men trắng của những hãng  sản xuất có chất lượng tốt và rất tốt.
 II- Phòng ăn
1- Đồ vảiKhăn trải bàn bằng vải coton trắngKhăn trải bàn bằng vải coton trắng
2- Dụng cụ ăn, uống- Bát, đĩa, chén… có thể dùng đồ bán sẵn, đảm bảo đồng bộ, không để tình trạng bị sứt- Bát, đĩa, chén… nên dùng loại men trắng, có in biểu tượng, tên của khách sạn. Có lưu ý tới tính chất của  từng loại phòng ăn mà sử dụng cho phù hợp
- Thìa, dĩa nên dùng bằng Inox (nên có một số lượng nhất định thìa, dĩa bằng bạc để dùng trong những bữa tiệc sang trọng)
- Đũa ăn nên dùng bằng nhựa
3- Đồ gỗ (bàn ghế)Có thể dùng đồ bán sẵn (không nên dùng đồ nhựa)Dùng gỗ có chất lượng tốt, kiểu dáng đẹp. Đặc biệt đối với ghế ngồi ăn nên dùng ghế bọc đệm, màu sắc trang nhã, hài hoà, thể hiện được sự sang trọng, lịch sự.
 III- Tiếp tân (chủ yếu là đồ gỗ)- Bàn ghế trong khu vực tiền sảnh có thể dùng đồ mua sẵn- Quầy tiếp tân nên dùng bằng gỗ chất lượng cao (tẩm, ướp, sơn, ép…) kiểu dáng đẹp.
- Bàn ghế trong khu vực tiền sảnh  nên  dùng bàn, ghế salon, đệm bọc vải thô, màu sắc, hài hoà, trang nhã
 IV- Bếp- Bàn sơ chế, chế biến, dụng cụ nấu luôn đảm bảo sạch sẽ.- Bàn để sơ chế, chế biến nên bọc bằng Inox
- Dụng cụ nấu luôn đảm bảo độ mới, sạch.